Khái niệm bàn thờ vọng

banthothantai

Bàn thờ vọng ngày nay khá phổ biến, áp dụng cho con cháu sống xa quê, hướng vọng về quê, thờ cha mẹ ông bà tổ tiên, hương khói trong những ngày giỗ, tết. Ngày xưa, với nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp, người nông dân suốt đời không rời quê cha đất tổ, chuyển cư sang làng bên cạnh cũng đã gọi là biệt quán, ly hương, vì vậy bàn thờ vọng chỉ là hiện tượng cá biệt và tạm thời, chưa thành phong tục phổ biến.

1, Khái niệm bàn thờ vọng

“Vọng bái “, nghĩa là vái lạy từ xa. Ngày xưa, khi triều đình có những điển lễ lớn, các quan trong triều tập trung trước sân rồng làm lễ, các quan ở các tỉnh hoặc nơi biên ải, thiết lập hương án trước sân công đường, thắp hương, nến, hướng về kinh đô quỳ lạy Thiên tử. Khi nghe tin cha mẹ hoặc ông bà mất, con cháu chưa kịp về quê chịu tang, cũng thiết lập hương án ngoài sân, hướng về quê làm lễ tương tự. Các bàn thờ thiết lập như vậy chỉ có tính chất tạm thời, sau đó con cáo quan xin về cư tang ba năm (xem bài Lễ Cư tang). Các thiện nam tín nữ hàng năm đi trẩy hội đền thờ Đức Thánh Trần ở Vạn Kiếp, đức Thánh Mẫu ở Đền Sòng v.v… dần dần về sau, đường sá xa xôi, cách trở, đi lại khó khăn, cũng lập bàn thờ vọng như vậy. Nơi có nhiều tín đồ tập trung, dần dần hình thành tổ chức. Các thiện nam tín nữ quyên góp nhau cùng xây dựng tại chỗ một đền thờ khác, rồi cử người đến bàn thờ chính xin bát hương về thờ. những đền thờ đó gọi là vọng từ (thí dụ ở số nhà 35 phố Tôn Đức Thắng Hà Nội có “Sùng Sơn vọng từ” nghĩa là Đền thờ vọng của núi Sòng, thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh).

Bàn thờ vọng ông bà cha mẹ chỉ được tập trung trong trường hợp sống xa quê. Những người con thứ, bất cứ giàu nghèo, sang hèn thế nào, nếu ở gần cánh cửa trưởng trên đất tổ phụ lưu lại, thì đến ngày giỗ, ngày tết, con thứ phải có phận sự hoặc góp lễ, hoặc đưa lễ đến nhà thờ hay nhà con truởng làm lễ, cho dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng cháu, thì chú hoặc ông chú vẫn phải thờ cúng ông bà tại nhà cửa trưởng. Do đó không có lệ lập bàn thờ vọng đối cửa thứ ngay ở quê nhà. Nếu cửa trưởng khuyết hoặc xa quê, thì người con thứ 2 thế trưởng được lập bàn thờ chính, còn bàn thờ ở nhà người anh cả ở xa quê lại là bàn thờ vọng.

Phong tục rất hay và rất có ý nghĩa. Bởi lẽ chữ Hiếu đi đôi với chữ Đệ. Khi sống cũng như đã mất, ông bà cha mẹ bao giờ cũng mong muốn anh chị em sống hòa thuận, một nhà đầm ấm. Thỉnh vong hồn về cầu cúng lễ bái, mà anh chị em ở gần nhau không sum họp, mỗi người cúng một nơi, thì đó là mầm mống của sự bất hoà, vong hồn làm sao mà thanh thản được.

ban tho

Cách lập bàn thờ vọng:

Chưa phải là phong tục cổ truyền, chưa có nghi lễ nhất định, mà chỉ là kinh nghiệm truyền cho nhau khoảng đầu thế kỷ lại nay tuỳ hoàn cảnh thuận tiện mà vận dụng: Khi bắt đầu lập bàn thờ vọng phải về quê chính báo cáo gia tiên tại bàn thờ chính. Sau đó xin phép chuyển một lư hương phụ hoặc mấy nén hương đang cháy giở mang đến bàn thờ vọng rồi thắp tiếp. Nếu có nhà riêng, tương đối rộng rãi khang trang, thì bàn thờ đặt hẳn một phòng riêng chuyên để thờ cúng cho tôn nghiêm, hoặc kết hợp đặt ở phòng khách, nhưng cao hơn chỗ tiếp khách. Nếu đặt bàn thờ gia thần riêng, thì phải đặt thấp hơn bàn thờ gia thần một ít. Đặt hướng nào? – Hướng về quê chính, để khi người gia trưởng thắp hương vái lạy thuận hướng vái lạy về quê. Thí dụ người quê miền Trung sống ở Hà Nội thì đặt bàn thờ vọng phía Nam căn phòng hay ngoài sân, ngoài hiên. Không nên đặt bàn thờ trong buồng ngủ, trừ trường hợp nhà chật hẹp quá thì phải chịu. Không nên đặt cạnh chỗ uế tạp, hoặc cạnh lối đi. Đối với những gia đình ở khu tập thể nhà tầng, nếu câu nệ quá thì không còn chỗ nào đặt được bàn thờ. Những người sống tập thể, chỉ đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng đủ, miễn là có lòng thành kính, chẳng cần phải câu nệ hướng nào, cao thấp rộng hẹp ra sao

2, Vợ mới làm dâu thì thờ cúng cha mẹ sao cho đúng

Vợ có thể xin phép rước vong linh bố mẹ mình về thờ trong nhà chồng, nhưng bài vị phải đặt đúng vị trí “nam tả, nữ hữu”, nghĩa là nội bên trái, ngoại bên phải theo hướng nhìn vào bàn thờ thần tài.

Hầu hết người Việt Nam từ xa xưa đã có phong tục con cháu thờ cúng ông bà, cha mẹ, đó là việc hiếu nghĩa. Để thực hiện việc này, tùy điều kiện gia đình, gia chủ sẽ có không gian tưởng nhớ riêng hay chỉ là ban thờ đơn sơ, có ảnh thờ hay không nhưng đến ngày giỗ, con cháu lại tề tựu thắp hương tưởng nhớ. Nhà có điều kiện thì làm mâm cỗ giỗ. Nhà nghèo cũng cố tiết kiệm chi tiêu để có chén cơm, canh và một ít thịt, cá, trứng hay chỉ là đĩa trái cây hái trong vườn, thậm chí chỉ là nén nhang, chén nước.

Không đòi hỏi cao sang nhưng nghi lễ này là để con cháu dù có cơ hội gặp mặt, đối với gia đình nghèo là bữa cỗ để cải thiện sức khỏe và quan trọng là con cháu có một bữa ăn tươi khi mà hầu hết ngày nào cũng chỉ có rau mắm và cơm độn vì kinh tế khó khăn. Nhưng “tưởng nhớ và ghi ơn” tổ tiên, ông bà, cha mẹ mới là mục đích chính. Ngày nay có phần biến tướng, cúng giỗ linh đình không cần thiết, thậm chí mệt mỏi do điều kiện vật chất đầy đủ nên việc bày biện mâm cao, cỗ đầy đôi khi lãng phí và khiến con cháu mệt mỏi, mất thời gian.

Về thờ cúng thì chỉ con trai, con trưởng mới thờ chính tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Con thứ, con gái chỉ thờ vọng ông bà, cha mẹ nếu có con trưởng; thờ chính nếu chỉ có con gái. Khi cha mẹ còn sống, con cháu sống chung trong gia đình thì không thờ tổ tiên của con dâu trong nhà bởi “một nhà không được thờ 2 họ”. Tuy nhiên nếu là nhà riêng thì việc tờ cúng là bình thường bởi vợ chồng đều được phép rước vong linh cha mẹ ruột mình để thờ chính hay thờ vọng, đó là việc làm hiếu nghĩa và không thể ngăn cấm. Con cháu không thờ ông bà cha mẹ thì ai thờ? Sao một vài người lại không hiểu điều đó.

Tuy nhiên, cần chú ý về cúng giỗ: Nếu thờ chính (là con trưởng hay con gái duy nhất) mới nên thắp hương, cúng giỗ chính kỵ (đúng ngày mất). Theo lệ ngày xưa, trước đó 1 ngày, con cháu sẽ viếng mộ nếu có điều kiện, làm mâm cơm gọi là “lễ thường” và mời người đã khuất về “vui vầy cùng con cháu để ngày mai “chính kỵ”. Con cháu nếu ở xa không về được (chỉ được thờ vọng) thì chỉ được cúng, giỗ trước ngày chính kỵ để “xin phép” và “báo cáo” lý do ngày nọ, ngày kia là chính giỗ nhưng vì lý do này nọ nên không về dự lễ.

Dù về hay không con cháu ở xa đều “góp giỗ” bằng vật chất hay tiền để người thờ phụng chính mua sắm lễ vật, chuẩn bị cỗ cho ngày chính kỵ. Tại sao thờ chính và thờ vọng? Người xưa quan niệm rằng nếu con cháu đều cúng giỗ đúng ngày chính kỵ thì tổ tiên, ông bà, cha mẹ không biết dự nhà ai vì trùng ngày giờ; dự nhà người này thì mất lòng người kia nên đành “ở nhà nhịn đói”.

Không ít gia đình do con cháu bất hòa hay do ở xa, cứ nhằm ngày chính kỵ làm giỗ. Người xưa nói: nhà có nhiều con, cứ ngày đó là chúng đua nhau làm cỗ, mời cha mẹ, nhưng vì đi đứa nọ mất lòng đứa kia, gây mất đoàn kết vì con cháu so bì, bác chú cũng khó đến chứ nói gì đến cha mẹ nên đành kiếm cớ ở nhà ăn cơm đạm bạc. Người sống còn vậy, người đã khuất càng không muốn con cháu chia lìa chỉ vì mâm cỗ.

Phong tục, tập quán ngàn đời là như vậy, do đó nếu vợ chồng có nhà riêng thì việc thờ cúng ông bà, cha mẹ (thờ chính nếu là con trai hay chỉ có con gái) và thờ vọng (nếu đã có người khác thờ chính) là bình thường và hợp đạo lý. Ngay cả khi nhà đó là hương hỏa của chồng, khi cha mẹ chồng mất, vợ vẫn có thể xin phép tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã khuất “rước” vong linh ông bà cha mẹ về thờ bình thường, chỉ có điều nên để ý là bài vị  phải đặt đúng vị trí “nam tả, nữ hữu” có nghĩa là nội bên trái, ngoại bên phải theo hướng nhìn vào bàn thờ. Dĩ nhiên bàn thờ nên có ít nhất 2 cấp: trên thờ tổ tiên ông bà, dưới thờ cha mẹ. Nếu có thờ thần linh thì để riêng hoặc phía trên cao hơn bàn thờ tổ tiên. Không có quy định nào “cấm” con cháu ở nhà riêng không được thờ ông bà, cha mẹ mình tại nhà… Thậm chí cha mẹ nuôi đã mất cũng được rước về để thờ nếu có hiếu và biết ơn và cũng được “cúng giỗ” chính kỵ hay không tùy theo hoàn cảnh.

Tìm trên Google:

  • cách lập bàn thờ vọng
  • tamlinhhuyenbi
  • tamlinhhuyenbi com
  • tuvihuyenbi

sua may giat sua binh nong lanh sua dien nuoc
phun xam mat phun xam moi
tai video xxx dfsdf xfdf laox yaf @$#$ àdsf xxx xvsfdsg x@&#@^$#^(*$#